image banner
Đền Phạm Thượng Quận (di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia)

Đền thờ Phạm Thượng Quận thuộc làng Khinh Dao, xã An Hưng (cũ); nay thuộc Tổ dân phố Hạ, phường Hồng An, thành phố Hải Phòng. Đền thờ Phạm Thượng Quận được gọi như vậy là bởi đền thờ vị thần họ Phạm, tức Ngài Phạm Đình Trọng, giữ chức Thượng thư Bộ Binh, tước Quận Công của triều đình. 

Đền thờ Phạm Thượng Quận đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cấp bằng xếp hạng Di tích Quốc gia theo Quyết định số 4244/QĐ-BVHTTDL ngày 29/12/2023.

Nghi môn đền Phạm Thượng Quận

Đền Phạm Thượng Quận nằm gần với đình Khinh Dao, di tích kiến trúc nghệ thuật Quốc gia và cũng gần với chùa Cả, tên chữ Chiêu Tường (昭祥), một cổ tự có từ thời Hậu Lý của địa phương.

Bảng xếp hạng di tích cấp Quốc gia

Khinh Dao (輕徭), theo nghĩa Hán tự là làng được giảm nhẹ việc đóng góp tô thuế, phu dịch với nhà nước. Để tránh nghĩa đen của từ khinh trong tiếng Việt, nên nhân dân thường gọi là Kinh Dao. 

Xưa Khinh Dao là xã thuộc huyện Giáp Sơn, phủ Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Địa danh Khinh Dao có muộn nhất vào thời Trần, thế kỷ XIII, vì trong văn bia “Trùng tu Chiêu Tường bi”, dựng niên hiệu Chính Hòa 20 (1699), đã ghi người dân xã Khinh Dao công đức trùng tu chùa. Trong chùa Chiêu Tường có nhiều tượng bằng đá có niên đại triều Mạc, thế kỷ XVI. Đầu thế kỷ XIX, triều Nguyễn hình thành cấp tổng, Khinh Dao thuộc tổng Vụ Nông, huyện Giáp Sơn. Niên hiệu Minh Mạng thứ 18 (1837), thành lập phủ Kiến Thụy, đến năm 1889, thành lập tỉnh Hải Phòng, năm 1902 đổi là Phù Liễn, năm 1906 đổi thành tỉnh Kiến An. Niên hiệu Duy Tân (1907-1916), Khinh Dao thuộc tổng Vụ Nông, huyện An Dương, phủ Kiến Thụy, tỉnh Kiến An, địa danh trên sử dụng đến Cách mạng tháng 8 năm 1945. Sau ngày đất nước độc lập, mồng 2 tháng 9 năm 1945, xã Khinh Dao được thành lập theo chế độ dân chủ mới. Năm 1950, xã Khinh Dao sáp nhập với xã Công Trứ thành xã Hồng Hưng, năm 1956 tách ra thành hai xã, An Hưng và An Hồng. Địa danh An Hưng được ổn định cho đến nay. 

Khinh Dao là vùng bãi bồi rất cao thích hợp với việc trồng lúa nước, trồng hoa mầu và lại gần sông, thuận tiện trong canh tác nông nghiệp, đánh bắt thủy sản. Qua tài liệu địa chất cho biết, Khinh Dao là vùng đất được hình thành rất sớm của vùng đồng bằng ở Hải Phòng. Bởi vậy, từ miền trung du, thời Vua Hùng, con người đã tiến xuống đồng bằng khai hoang lập ấp, trong đó có Khinh Dao. Những dấu ấn từ thời nhà nước Văn Lang còn để lại tại địa phương qua tín ngưỡng thờ Thành hoàng, những vị thần thờ tại đình Khinh Dao có nguồn gốc từ thời Hùng Vương dựng nước. Những dấu tích mộ Hán, gạch Hán thời kỳ đầu Bắc thuộc sau đó, cũng được người dân khai quật trong lòng đất Khinh Dao khi làm thủy lợi. Ngay cả những tên địa danh cổ của làng Khinh Dao như: xóm Chương, miếu Quàn, miếu Ngấn, chùa Gộc... cũng là những chữ Nôm mà người Việt sử dụng trước thời kỳ độc lập, tức là trước thế kỷ X. Đến thời Lý - Trần, vùng đất Khinh Dao dân cư đã ổn định, nên đã có chùa Cả và thời Lê Sơ, thế kỷ XV đã thành địa phương trù phú, sung túc. Chính vì vậy vào thời gian này làng đã có hai vị đỗ Đại khoa (đỗ Tiến sĩ).

Đến khai hoang lập làng thuở ban đầu có các họ Lưu, Lê, Đoàn, Đặng, Phạm, Nguyễn. Họ Phạm từ Kính Chủ, Kinh Môn di cư về đây lập nghiệp, hiện được 18 đời. Còn các họ khác, do binh lửa chiến tranh nên bị thất lạc gia phả, do vậy không rõ phát tích từ nơi nào. Do thiên tai, địch họa, nên việc di cư rồi tụ cư diễn ra nhiều trong lịch sử. Chính vì vậy, các dòng họ trên mới tổng hợp đến nay chỉ có khoảng trên 20 đời. Trước đây, có một số dòng họ có từ đường bằng gỗ cổ, nhưng nay đã bị hỏng nát, chỉ còn từ đường họ Đoàn. Làng Khinh Dao có 5 chùa: Chùa Hào, chùa Vang, chùa Cả, chùa Gộc và chùa Quàn, hiện nay còn lại chùa Cả và chùa Gộc. Làng có 7 miếu: miếu Ngấn, miếu Nam, miếu Chương, miếu Thượng, miếu Đông, miếu Hạ và miếu Bắc. Các miếu thờ các vị Thành hoàng làng và một miếu thờ quan Nghè (dân gọi miếu Nghè). Phần nhiều miếu ngày nay không còn như: miếu Đông, miếu Hạ, miếu Ngấn, một số mới khôi phục lại: miếu Nam, miếu Chương, miếu Thượng, miếu Bắc. Làng Khinh Dao có 1 đền, 1 đình là đền Phạm Thượng Quận và đình Khinh Dao.

Khinh Dao là một làng có truyền thống khoa bảng, địa phương có tới 4 vị đỗ Đại khoa thời Nho học: Nguyễn Hữu Trung, đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân năm 1478, làm quan nhà Lê, chức Giám sát ngự sử. Lê Công Truyền, đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân năm 1481, làm quan nhà Lê chức Giám sát ngự sử. Nguyễn Đôn, đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân năm 1511, làm quan chức Thị lang, tước Tùng lĩnh Hầu và Ngài Phạm Đình Trọng. Trong cuốn “Lịch sử Đảng bộ xã An Hưng, 1948 - 2018” có ghi Trần Trung Lập, đỗ Tiến sĩ niên hiệu Hồng Thuận, đời vua Lê Tương Dực (1509 - 1516). Song qua tra cứu các tài liệu về các vị đỗ Tiến sĩ huyện An Dương và điền dã tại địa phương được biết, Ngài Trần Trung Lập quê ở Nam Định, ông đỗ Tiến sĩ thời Hậu Lê, nhưng chưa rõ khoa nào. Sau khi về trí sĩ ông về xóm Chương (Địch Lương) của xã Khinh Dao mở trường dạy học, giáo hóa cho dân, để lại nhiều ân huệ cho người dân nơi đây. Chính vì vậy người dân địa phương đã coi ông như người quê hương và sau khi ông mất đã dựng miếu thờ ông. Miếu thờ ông có từ rất lâu đời, qua nhiều lần tu sửa hiện nay vẫn được phụng thờ uy nghiêm. Trong văn bia “Địch văn hội phủ vị” (廸文會祔位), dựng niên hiệu Tự Đức thứ 6 (1853) hiện bảo tồn tại miếu, ghi chép việc công đức ruộng, tiền, đất đai của người dân thôn Địch Lương, xã Khinh Dao để phụng thờ Ngài Trần Trung Lập tại miếu. Tuy nhiên, trong miếu thờ Ngài Trung Lập, người dân địa phương còn thờ con gái của ông là bà Trần Thị Thục. Như vậy việc thờ tự trên cần tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu để giải thích được thỏa đáng.

Tượng thờ Ngài Phạm Đình Trọng

Ngài Phạm Đình Trọng đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân năm 1739, hàm Thái tử Thái bảo, tước Hải Quận Công, là Thành hoàng làng Khinh Dao. Như vậy Khinh Dao là địa phương có nhiều quan Nghè nhất trong các làng xã của huyện An Dương và chiếm số lượng gần một phần ba tổng số ông Nghè của huyện. Làng Khinh Dao xa xưa có nghề làm bánh đa, bánh đa của làng rất nổi tiếng, sản phẩm được bán rộng rãi khắp mọi nơi. Làng Khinh Dao có xóm trại, sau này được cắt về địa phận xã Tân Tiến, cùng huyện. Xóm trại khi chuyển về Tân Tiến sau phát triển thành một thôn Khinh Dao, dân thôn Khinh Dao vẫn theo nghề làm bánh đa của tổ tiên và ngày nay đã được tôn vinh trở thành làng nghề truyền thống sản xuất bánh đa.

Đền Phạm Thượng Quận thờ Ngài thần chủ và cũng là Thành hoàng Phạm Đình Trọng. Ông là một danh thần nổi tiếng văn, võ toàn tài được nhiều sách sử ghi chép. Như sách “Nhân vật chí” của Phan Huy Chú thời Hậu Lê ghi ông vào mục “Người phò tá có công lao tài đức”. Sách “Đại Nam nhất thống chí” đầu triều Nguyễn viết về tỉnh Hải Dương, mục “Nhân vật” ghi tên ông; mục “Đền miếu” ghi “Đền Thượng thư họ Phạm”, chính là ngôi đền Phạm Thượng Quận; Sách “Hải Dương phong vật chí” soạn năm 1811 của Trần Đạm Trai, mục “Văn thần” chép tên ông; Sách “Hải Đông chí lược” soạn thời Nguyễn trong mục “Liệt truyện tướng văn, tướng võ” ghi chép về ông... Thân thế sự nghiệp của ông được tóm lược như sau

Đền thờ Phạm Thượng Quận

Phạm Đình Trọng, người làng Khinh Dao, huyện Giáp Sơn, phủ Kinh Môn, tỉnh Hải Dương, nay là làng Khinh Dao, xã An Hưng, huyện An Dương. Theo gia phả, ông sinh ngày 22 tháng 2 năm Giáp Ngọ (1714), đời vua Lê Dụ Tông, xuất thân từ lệnh tộc có nhiều người đỗ đạt làm quan. Thân phụ là Phạm Huy Ánh, làm quan chức Đô ngự sử, hàm Thái tử Thái bảo, tước Yến Dực Hầu. Tằng tổ là Phạm Chất Lượng làm quan chức Tả Thị lang Bộ Hộ, tước Hồng Nguyên Hầu. Từ nhỏ ông thông minh, mẫn tiệp, lại được người cậu ruột rèn cặp, sau đó lần lượt theo học các thầy nổi tiếng, hay chữ như cụ Giám sinh ở Bồng Lai, cụ Huấn Trình ở Hà Đỗ, cụ Nghè Đông ở Nhữ Thủy, cụ Nghè Nguyễn ở Đan Trường, còn theo tập văn ở trường đại tập của cụ Nghè Trân ở Vân Canh. Năm 20 tuổi, Phạm Đình Trọng đỗ Hương cống (Cử nhân thời Nguyễn), khoa thi Kỷ Mùi, niên hiệu Vĩnh Hựu thứ 5 (1739). Ông đỗ Tiến sĩ, làm quan từ chức Cấp sự trung, trải thăng đến chức Bồi tụng, Thượng thư Bộ Binh, hàm Thái tử Thái bảo, tước Hải Quận Công. Ông tài kiêm văn, võ, Chúa Trịnh Doanh tự tay viết tặng chữ “Văn, võ toàn tài”, lại ban cho biển ngạch “Công thần đồng hưu”. Sở dĩ ông được thăng thưởng nhanh vì ông tham gia dẹp phỉ Tầu Ô Quan Lan tại biên giới Việt Trung, phá được phong trào khởi nghĩa nông dân Nguyễn Hữu Cầu. Sau đó ông được cử làm Đốc trấn Nghệ An, một trấn hiểm yếu của quốc gia. Ở đây, ông có nhiều chính sách tốt, được sĩ phu dân chúng kính trọng mến mộ, có những nơi làm sinh từ (đền thờ khi ông còn sống). Ở chùa Dền, xã Kỳ Châu, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh có lập bia năm 1752 để thờ khi ông còn sống. Sau ông bị Việp Quận Công Hoàng Ngũ Phúc ghen tài, đố kỵ, xúc xiểm với Chúa Trịnh. Chúa Trịnh thấy ông là người tài cao, có uy vọng lớn, nên cũng nghi kỵ, e ngại. Chúa Trịnh, nhân dịp cuối năm đã sai người gửi tặng ông dải lụa bạch và bình rượu có thuốc độc. Bộ tướng của ông nhiều người phẫn uất, Đội trưởng đội Thanh Kỳ đã khuyên ông bỏ Trịnh theo Nguyễn, nhưng ông là danh thần, trung quân, ông đã uống rượu của Chúa Trịnh. Ông mất vào ngày Nguyên đán năm Canh Tuất. Vua Cảnh Hưng và Chúa Trịnh cho quan về quê tế, có bài văn điếu khá thống thiết, lại gia phong hàm Thái phó, ban cho làm Phúc thần làng Khinh Dao. 

Sau này các làng Trung Thanh Lang, An Lão, làng Lâm Động, Thủy Nguyên cũng thờ ông làm Thành hoàng. Ngoài ra, còn có 2 làng là Nội Trì và Yên Lã thuộc phường Tân Hồng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh cũng có đền thờ Ngài. Phạm Đình Trọng sinh thời có công bảo vệ di sản văn hóa, ông thẳng tay trị tội một số kẻ phá hoại văn miếu phủ Kinh Môn và đốc xuất khôi phục miếu này, ông còn dựng bia văn miếu huyện Giáp Sơn. Con của ông là Phạm Đình Nghi, có công, được thăng chức Trấn thủ Hải Dương, tước Đông Ngạn Hầu.

 Đền Phạm Thượng Quận được khởi dựng vào nửa cuối thế kỷ XVIII, tức là sau khi Phạm Đình Trọng mất và được triều đình sắc phong làm Phúc thần. Đền nằm trên gò đất khá cao, nhưng bằng phẳng, có thế phong thủy đẹp của làng Khinh Dao. Theo các vị cao niên làng Khinh Dao kể lại, ngôi đền thuở ban đầu kiến trúc mặt bằng kiểu tiền nhất hậu đinh, tòa hậu cung được làm theo thức chồng diêm nóc các trang trí đắp vẽ rất đặc sắc. Đền nhìn về hướng Tây, hướng vọng về ngôi chùa cổ Chiêu Tường, nơi ấy có nghĩa trang nhân dân, có lăng mộ của Ngài Phạm Đình Trọng. 

 Sau một thời gian dài do thăng trầm của lịch sử và binh lửa chiến tranh, ngôi đền bị xuống cấp nghiêm trọng, nhưng sau đó được khôi phục tôn tạo lại khang trang, bền vững như ngày nay Từ đường trục của thôn, con đường nhựa rộng rãi khá đẹp, bắt gặp nghi môn đền Phạm Thượng Quận, qua nghinh môn có đường đi rộng trên đường thần đạo, hai bên là cây xanh tỏa bóng mát cho khách hành hương. Trước đền là sân lát gạch đỏ bằng phẳng, từ sân lên đền qua những bậc cấp. Đền có mặt bằng kiến trúc chữ nhị ba gian tiền bái, 1 gian hậu cung và làm theo thức chồng diêm nóc các, mái đao cong, lợp ngói mũi. Trên mái được trang trí đắp, vẽ các đề tài truyền thống như: đỉnh giữa bờ nóc đắp lưỡng long chầu nguyệt, các góc đao đắp tổ hợp rồng chầu, phượng vũ... Toàn bộ đền làm bằng bê tông cốt sắt, kết cấu từng tòa nhà ghép các cấu kiện kiến trúc và đổ bê tông thành một khối. Cách thi công này bảo đảm cho kiến trúc của ngôi đền có độ bền chặt, vững chắc. Tòa tiền bái kiểu một gian hai dĩ, bộ khung chịu lực gồm hai bộ vì, vì hai hàng chân cột, cột quân được thay bằng tường bao che của đền. Phần cổ diêm của các bộ vì bưng kín và tạo vỉ ruồi đỡ mái, trên phần vỉ ruồi vẽ tranh mầu đề tài rồng, mây hội hợp. Vì nách thuận chồng ba con, trên xà nách và thuận đắp nổi hoa văn lá lật, đấu kê vuông thót đáy, đắp nổi hoa văn hoa sen cách điệu. Cửa tòa tiền bái cấu tạo 1 gian, đóng theo kiểu cửa cổ, cửa thùng khung khách. Hậu cung cấu tạo hai bộ vì, vì bốn hàng chân cột, kết cấu vì tương tự như bộ vì tòa tiền bái. Tòa hậu cung có cửa chính và hai cửa nách, cửa làm kiểu cửa thùng khung khách, cửa nách có một cánh rộng. Đi vào hậu cung đền chủ yếu qua hệ thống cửa nách.

 Đền Phạm Thượng Quận trải qua thời gian, nhưng vẫn còn bảo tồn được khá nhiều cổ vật có giá trị về lịch sử, mỹ thuật như thần tượng bằng gỗ quý có niên đại thế kỷ XIX, long khám, ngai thờ mỗi loại 3 chiếc làm bằng chất liệu gỗ tốt có niên đại thế kỷ XIX. Nhang án bằng gỗ tốt, có niên đại đầu thế kỷ XX. Bộ voi đá chầu trước cửa đền có niên đại thế kỷ XVIII. Ngày nay, đền sau khi được tôn tạo đã được người dân cung tiến khá nhiều đồ thờ tự tế khí như: cửa võng, câu đối, đại tự...

Đền Phạm Thượng Quận còn gìn giữ được hai tấm bia đá: 

Bia 1: Bia “Hậu thần bia ký”, bia ghi về hậu thần. Bia dựng niên hiệu Minh Mạng thứ 18 (1837), nội dung khắc ghi giáp Nam của xã Khinh Dao, huyện Giáp Sơn, phủ Kinh Môn, bầu bà Phạm Thị Thư, hiệu Diệu Ngọc là hậu thần. Bà là á thất (vợ thứ) của Ngài Phạm Chân Định, quan Hiệp trấn các xứ Hải Dương, tước Thọ Như Hầu. Bà là người trong giáp công đức cho đền 30 quan tiền cổ để mua sắm đồ tế khí, thờ tự, bà còn công đức cho giáp 1 mẫu ruộng để phục vụ việc thờ phụng cho đền. Trong bia cũng quy định việc cúng biếu hậu thần khi còn sống và kỵ giỗ khi mất. 

 Bia 2: Bia “Hạ thôn hiệp bảo”, (下村叶保), nghĩa là thôn Hạ đồng thuận bầu hậu thần. Bia dựng niên hiệu Cảnh Hưng thứ 40 (1779). Nội dung bia tôn vinh ca ngợi bà á thất (vợ thứ), phu nhân của Ngài Phạm Đình Trọng. Bà là bậc sĩ hiểu biết thi, thư, có công, dung, ngôn, hạnh, bà đã công đức ruộng, tiền cho dân thôn trùng tu, tôn tạo đền, miếu của địa phương. Hai tấm bia trên rất có giá trị trong việc nghiên cứu về lịch sử và những vị hậu thần có vị thế của địa phương.

        

Trước đây hằng năm, vào các dịp Mồng 1 Tết Nguyên đán, tức là ngày mất của Phạm Đình Trọng, ngày 22 tháng 2 âm lịch, ngày sinh của Ngài, nhân dân địa phương tổ chức tế lễ dâng hương tại đền. Ngày nay, người dân địa phương vẫn kế thừa phát huy các tiết lệ trên. Ngoài ra, nhân dịp tiết lễ trên, dòng họ Phạm còn tổ chức biểu dương tặng thưởng cho các con cháu trong dòng họ có thành tích học tập tốt. Đền Phạm Thượng Quận tuy mới được tôn tạo, song được xây dựng theo kiến trúc truyền thống, được trang trí, đắp vẽ hoa văn tinh xảo và có giá trị mỹ thuật cao. Đền phụng thờ một nhân vật lịch sử, một vị đại quan rất nổi tiếng của đất nước trong triều Hậu Lê, thế kỷ XVIII. Đền nằm gần với đình Khinh Dao và chùa Cả, tạo thành một quần thể di tích có nhiều giá trị về kiến trúc, về tín ngưỡng, tâm linh. 

 

btv hongan
QR Code
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisementCó thể là hình ảnh về văn bản
Tin mới
Thư viện ảnh
Thống kê truy cập
  • Đang online: 0
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 0
  • Tất cả: 0