Đình An Hồng Phúc thuộc thôn Thuần Tỵ, xã An Hồng, huyện An Dương (cũ) nay thuộc tổ dân phố Thuần Tỵ, phường Hồng An, thành phố Hải Phòng. Tên của ngôi đình được đặt khi phục dựng lại đình năm 2015. Vì cả xã An Hồng ngày xưa chỉ có một đình nên người dân đã lấy tên của xã và thêm chữ phúc, thể hiện ước mong, khát vọng đình được xây dựng sẽ mang hạnh phúc đến cho nhân dân toàn xã, để đặt tên đình.
Ngày 10/11/2017 UBND thành phố Hải Phòng ký Quyết định số 3046 /QĐ- UBND về việc xếp hạng di tích lịch sử cấp thành phố đối với Đình An Hồng Phúc.

Đình An Hồng Phúc
Thuần Tỵ là tên của hai liệt sĩ: Chu Khắc Thuần và Ngô Khắc Tỵ, người địa phương, hy sinh trong kháng chiến chống Pháp. Trước kia, nơi đây là làng Song Mai, còn có tên Nôm là làng Moi. Vùng đất và con người làng Song Mai được hình thành muộn nhất từ trước thế kỷ X.
Song Mai (雙梅), theo nghĩa bóng và mở rộng của Hán tự, chỉ quê hương của những người giỏi giang, hiền tài. (ý nghĩa chữ Song Mai được lấy từ điển cố vua nhà Tấn ca ngợi vị tể tướng Phó Duyệt hữu dụng như quả mơ, quả mai, lúc cần có thể nấu canh, lúc khác lại có thể muối dưa để dùng). Song Mai trước kia là xã thuộc huyện Thủy Đường, phủ Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Đến niên hiệu vua Đồng Khánh (1886-1888), do tránh húy nên đổi thành huyện Thủy Nguyên. Niên hiệu Minh Mạng triều Nguyễn (1820-1840), hình thành cấp hành chính tổng, Song Mai là xã đứng đầu tổng. Tổng Song Mai có 4 xã: Song Mai, Do Nha, Mai Thự và Hà Liễn. Triều Minh Mạng, năm 1837 thành lập phủ Kiến Thụy, sau này năm 1889 thành lập tỉnh Hải Phòng, rồi đổi thành tỉnh Phù Liễn và năm 1906,đổi tiếp thành tỉnh Kiến An, xã Song Mai thuộc tổng Song Mai, huyện An Dương, phủ Kiến Thụy, tỉnh Kiến An. Năm 1946, theo quyết định của Chính phủ, hai xã Song Mai, Mai Thự (phương ngữ đọc Mai Thự là Mai Trữ) hợp thành xã Công Trứ. Năm 1950, theo yêu cầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, sáp nhập hai xã Khinh Dao và Công Trứ thành xã Hồng Hưng. Năm 1956, xã Hồng Hưng được tách làm hai xã, An Hồng và An Hưng. Địa danh xã An Hồng được ổn định đến ngày nay. Làng Song Mai trước đây có hai đình, đình Song Mai, đình Mai Thự; 2 chùa, chùa Cả, chùa Cao, chùa Cả không còn (địa điểm chùa Cả hiện nay là Công ty đóng tầu Sông Cấm), chùa Cao hiện nay gọi là chùa An Hồng, mới được xây dựng lại. Làng có 6 đền, miếu: Miếu Tý, miếu Đống Gia, đền Vua Bà, miếu Đống Ruối, miếu Đống Răm, đền Vua Linh. Hiện nay chỉ còn đền Vua Bà và đền Vua Linh, đều đã được xếp hạng cấp thành phố. Làng Song Mai có văn từ, địa phương gọi là Đình Sở, nhưng hiện nay cũng không còn.
Xưa kia, đến lập làng, dựng ấp ở Song Mai có một số dòng họ như: Lê, Chu, Dương, Trương, Nguyễn, Phạm, Ngô… Do thời gian quá xa và binh lửa chiến tranh nên các dòng họ không ghi chép được phú ý đầy đủ, cũng không rõ dòng họ mình phát tích từ đâu đến nơi đây. Tuy nhiên, cũng có dòng họ như họ Trương truyền ngôn lại có người đỗ đến Phó bảng, họ Lê Tường còn gìn giữ được cây thị trong khuôn viên từ đường dòng họ, có tuổi đời trên 2 trăm năm và được vinh danh “Cây di sản Việt Nam” năm 2018.
Theo truyền ngôn trong cuộc kháng chiến chống quân Nam Hán của anh hùng dân tộc Ngô Vương Quyền, người dân làng Moi đã đóng góp sức người, sức của, góp phần làm nên chiến thắng trên sông Bạch Đằng lần thứ nhất năm 938. Tiếp các giai đoạn lịch sử sau này, đều để lại dấu ấn lịch sử tại quê hương Song Mai.

Nghi môn
Thời Lê - Mạc, cuộc sống dần ổn định trở lại. Khi Mạc Đăng Dung lập nên vương triều Mạc, đã thi hành một số chính sách chấn hưng nền kinh tế, tổ chức đắp một số tuyến đê sông, biển quan trọng. Ký ức của người dân còn lưu truyền việc người dân Song Mai tham gia đắp con đê chạy từ Lê Xá (Đại Bản) xuống đến cống Cùng (Cảng Mới) vào thời Mạc, mở thêm ra mấy trăm mẫu bãi bồi. Trong quá trình mở mang, khai khẩn, phát triển sản xuất, vào đầu triều Nguyễn, các giáp trong làng còn đắp thêm những con đê mới. Trải qua hàng ngàn năm, người dân Song Mai (sau tách thêm ra xã Mai Thự) đã anh dũng, can trường xây dựng, bảo vệ quê hương đất nước. Những nhân vật lịch sử được dân làng phụng thờ tại đình An Hồng Phúc đã nói lên những điều đó. Thời kỳ xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, do có thành tích xuất sắc trong sản xuất nông nghiệp, nên năm 1963 xã An Hồng là xã duy nhất của thành phố Hải Phòng, vinh dự được Bác Hồ tặng thưởng chiếc máy kéo vạn năng của Hung ga ri. Trong cuộc kháng chiến chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ra miền Bắc, trung đội nữ dân quân của xã An Hồng gồm 12 chiến sĩ, chỉ bằng hai khẩu súng 12,7 ly, đêm ngày 6 tháng 7 năm 1972 đã bắn rơi máy bay phản lực của Mỹ. Với những thành tích đặc biệt xuất sắc trong kháng chiến chống Pháp, năm 2005, xã An Hồng đã được nhà nước tặng thưởng danh hiệu cao quý “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.
Thôn Thuần Tỵ, nơi di tích tọa lạc, có 2 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, 22 liệt sĩ và 8 thương binh
Đình An Hồng Phúc thờ 8 vị Thành hoàng gồm:
1 -Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn;
2 -Hiển liệt phu hựu, Hoằng huân, Hoằng huống, Thuần chính, Dực bảo, Trung hưng linh ứng chi thần (Phạm Tử Nghi);
3 -Dực bảo, Trung hưng, linh phù Đương cảnh Thành hoàng, Quảng tế Cư sĩ tôn thần;
4 - Dực bảo, Trung hưng linh phù, Bản thổ Đương Công phổ hóa tôn thần (Lôi Công);
5 -Dực bảo, Trung hưng linh phù, Thịnh ứng, thần vũ Khuông phù, Bảo hộ chi thần (Hoàng Công);
6 -Dực bảo, Trung hưng linh phù, Quang hiển, Nhân hoằng, Chính trực, Đồng thụ, hiệu Thiệu Công tôn thần (Thiệu Công);
7 -Dực bảo, Trung hưng linh phù Chấn Văn Lý, chân Nho tôn sĩ, Long thịnh, Hưng đạo Đường Trăm tôn thần (Đường Công);
8 -Dực bảo, Trung hưng linh phù, Chiêu Huấn, Đức trạch, Trinh thiện, Nguyên phi Hoàng hậu tôn thần (Trần Hồng Nương).

Bia thờ 8 vị Thành hoàng
Thân thế, sự nghiệp của các vị Thành hoàng tóm lược như sau:
Ngài Trần Quốc Tuấn (1228-1300): Ông là anh hùng dân tộc, danh tướng kiệt xuất của dân tộc, đồng thời là danh tướng cổ kim của thế giới. Ông là bậc danh thần trụ cột của triều Trần, có công lao to lớn trong ba cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông. Ông để lại cho đời “Hịch tướng sĩ” - một áng thiên cổ hùng văn. Sau khi mất, ông hiển thánh trong lòng nhân dân, được mọi người tôn vinh là Cha, vì vậy dân gian mới có câu: “Tháng 8 giỗ cha, tháng 3 giỗ mẹ” (20 tháng 8 ngày giỗ Trần Quốc Tuấn, mẹ là thánh Mẫu Liễu Hạnh, giỗ ngày 3 tháng 3). Ngài được lập đền thờ ở rất nhiều nơi trong cả nước, ngay cả trong điện tư gia và nhiều gia đình cũng phụng thờ ông, dân gian tôn Ngài là Đức Thánh Trần.
Ngài Phạm Tử Nghi: Ông người làng Niệm Nghĩa, huyện An Dương, phủ Kinh Môn, tỉnh Hải Dương xưa, nay là phường Vĩnh Niệm, quận Lê Chân, Hải Phòng. Phạm Tử Nghi là võ quan cao cấp của triều Mạc, thế kỷ XVI. Ông là người trung lương, khảng khái, hiếu nghĩa và có những tư tưởng tiến bộ về truyền ngôi vị. Ông không đồng tình với việc truyền ngôi vua cho hoàng tử còn ở tuổi thiếu nhi, khi nước nhà còn nhiều nhiễu sự. Sau này, do thúc ép của nhà Minh (Trung Quốc), ông bị nhà Mạc sát hại, ông đã hiển thánh trong lòng dân. Theo tín ngưỡng dân gian ông là vị thánh tối linh thiêng, luôn hiển hiện phù giúp cho nhân dân, xã tắc. Đặc biệt ông thường âm phù cho những người dân làm ăn trên sông nước, ở những nơi bến sông, cửa biển. Niên hiệu Khải Định thứ 9, Ngài được phong đến phẩm trật thần cao nhất “Thượng đẳng thần”.
Ngài Quảng tế Cư sĩ tôn thần: Theo thần tích đình làng Song Mai do Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính soạn vào ngày tốt, mùa xuân, niên hiệu Hồng Phúc, năm đầu (1572); Quản giám bách thần, Tri điện hùng lĩnh Thiếu khanh, Nguyễn Hiền, theo chính bản sao lại vào ngày tốt, mùa đông, niên hiệu Vĩnh Hựu thứ 3 (1737 ); bản cũ địa phương sao lại vào ngày tốt, mùa Đông niên hiệu Duy Tân thứ 4 (1910), thần tích về Quảng tế Cư sĩ tôn thần tóm lược như sau:
Ngài đỗ Hoàng giáp Tiến sĩ vào triều Hậu Lý, niên hiệu Long Phù thứ 2 (1102). Ngài được vua ban chức Hàn lâm viện, Đông các Đại học sĩ, hàm Vinh lộc Đại phu, kiêm tế tửu Quốc Tử giám. Sau khi mất được sắc phong “Trung đẳng phúc thần”.
Niên hiệu Thiên Long thứ 2 (1134), vua Lý Thần Tông khảo khóa bách thần, Ngài được dự vào những vị thần thiêng có linh tích, được gia tặng “Chính thống linh hựu chi thần”. Đến thời nhà Trần, vua Trần Thánh Tông gia tặng “Ứng hiển, Hồng ân chi thần”. Lê Thái Tông gia tặng “Nhân chiếu nghĩa lập chi thần”. Thời Hậu Lê, niên hiệu Vĩnh Khánh thứ 2 (1730), gia tặng “Đức bác, Hóa quảng chi thần”. Do binh lửa chiến tranh ngọc phả bị cháy, đến triều Nguyễn, niên hiệu Tự Đức, thứ 12 (1859), xã khai thần tích về trên, triều đình kiểm tra, xem xét và xác nhận Song Mai có đền thờ Ngài trên gò đất cao nơi gần trạm dịch. Truy theo quốc sử vào thời Lý niên hiệu Long Phù, Ngài được cử đi tuần tra xem xét giúp đỡ địa phương, các nơi Ngài đến dân được hưởng công bằng, hạnh phúc. Sau khi Ngài mất các địa phương trên được nhà vua cho dựng đền, miếu thờ Ngài. Làng Song Mai cũng nằm trong các địa phương nêu trên đã xây miếu thờ Ngài. Niên hiệu Tự Đức, năm thứ 6 (1853), vua phong cho hai xã Song Mai, Mai Thự phụng thờ Ngài.
Các Ngài: Dực bảo, Trung hung linh phù Bản thổ Đương Công phổ hóa tôn (Lôi Công) thần;Dực bảo, Trung hung linh phù Thịnh ứng, thần vũ Khuông phù, Bảo hộ chi thần (Hoàng Công);Dực bảo, Trung hung linh phù Quang hiển Nhân hoằng, Chính trực, Đồng thụ, hiệu Thiệu Công tôn thần (Thiệu Công):
Cũng theo thần tích làng Song Mai, ghi chép về ba Ngài Lôi Công, Hoằng Công, Thiệu Công như sau: Vào thời loạn 12 sứ quân (Triều Đinh, thế kỷ X), có vợ chồng ông Lý Toàn Công và bà Hoàng Thị Oánh, người ở động Hoa Lư đến Song Mai lánh nạn. Ông, bà được gia đình ông Đào Công Nghiệp, người ở Mai trang cưu mang, che chở. Tại đây, ông bà sinh được 2 người con là Lý Hoằng Công và Lý Thiệu Công có văn võ toàn tài. Gặp lúc Đinh Bộ Lĩnh đứng lên dẹp loạn 12 sứ quân, ba bố con đầu quân, cả ba người đều được phong tướng, giúp Đinh Bộ Lĩnh hoàn thành sự nghiệp, thu giang sơn về một mối. Sau khi đất nước thanh bình, ba cha con Lý Công xin nhà vua về bản quán lễ vọng tiên đường, nhà vua chuẩn cho. Ba cha con về quê hương lễ tiên đường, mở đại yến tiệc mời dân làng cùng dự. Đương lúc yến tiệc, bỗng trời đất nổi cuồng phong, sấm sét nổ vang trời, cũng lúc đó ba ông tự nhiên cùng hóa, hôm đó là ngày 19 tháng 11. Sau khi trời đất thanh quang, mọi người nhìn thấy chỗ các ông mối đã xông thành ngôi mộ lớn. Nhân dân bản xã làm biểu tấu lên vua. Nhà vua rất thương xót cho ba vị công thần, trung nghĩa có nhiều công lao với đất nước, cho triều thần mang sắc phong về tại bản quán làm lễ an táng các ông và lệnh cho dân địa phương lập miếu thờ phụng ngay tại nơi các ông hóa. Nhà vua còn ban cho xã 3 trăm quan tiền công để xuân, thu quốc tế và phong cho ba Ngài là Thượng đẳng thần. Sắc phong Ngài Lý Toàn Công là Bản thổ Lôi công, Phổ hóa Đại vương; Ngài Hoằng Công là Minh Kình, Cương trực Đại vương; Ngài Thiệu Công là Quang hiển, Linh thông Đại vương. Nhà vua còn ban cho Song Mai đặc ân là ấp hộ nhi, được miễn trừ phu dịch, thuế khóa. Miếu thờ Ngài Hoằng Công trên gò đất cao có cây dừa nên gọi hiệu Ngài là “Đống Gia Đại Vương” (gia chữ Hán là cây dừa) miếu “Đống Gia”. Miếu thờ Ngài Thiệu Công trên gò đất cao có cây ruối nên gọi hiệu Ngài là: “Đống Ruối Đại Vương”, miếu Đống Ruối, các miếu sau này thuộc địa phận làng Mai Thự. Các ông được gia phong làm Thượng đẳng phúc thần của hai làng Song Mai, Mai Thự, đời đời hưởng lộc cùng đất nước.
Ngài Dực bảo, Trung hung linh phù Chấn Văn Lý, chân Nho tôn sĩ, Long thịnh, Hưng đạo Đường Trăm tôn thần (Đường Công): Miếu của Ngài được xây dựng trên Đường Trăm, nên được người dân gọi tên hiệu của Ngài là Đường Trăm tôn thần. Thần tích hiện của làng Song Mai không ghi rõ về Ngài, nhưng có chép: “Sắc minh tự Đường Trăm Đại vương lịch tặng Chấn Văn viễn lý Chân Nho, tôn sĩ, long thịnh, hưng đạo an nhân, hộ vật, Dực bảo, Trung hưng linh phù tôn thần. Hộ quốc, tí dân, nẫm trứ linh ứng, kim mông gia phong Đoan túc tôn thần”.
Ngài Trần Hồng Nương, vị Thành hoàng được thờ tại đền Vua Bà. Đình An Hồng Phúc ngày nay có nguồn cội từ đình Song Mai, ngôi đình của hai làng Song Mai và Mai Thự. Theo văn bia của địa phương còn bảo tồn, đình Song Mai khởi dựng vào thời Hậu Lê, niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 8 (1712). Nội dung bia còn cho biết, đình được dựng do thành quả đóng góp của nhân dân, nhưng đặc biệt có có sự tiến cúng ruộng đất, ao cho làng để làm đình của cụ Hảo. Cụ Hảo là người địa phương, sau này người dân gọi là Cụ Hậu, vì cụ được nêu công lớn nhất trong bia đá hậu thần của làng. Trong thời gian đầu, đất nước giành được độc lập năm 1945 - 1946, đình Song Mai là nơi nhân dân địa phương học tập chủ trương, chính sách của Chính phủ ta. Đặc biệt ngày 6 tháng 1 năm 1946, đình là địa điểm bỏ phiếu bầu cử Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Khoảng cuối năm 1946, do yêu cầu tiêu thổ kháng chiến, đình Song Mai bị dỡ bỏ. Năm 2015, đình được xây dựng lại ở vị trí gần với khu vực đình cũ trước đây.
Đình An Hồng Phúc nằm trên một khuôn viên rộng thoáng mát, nhìn về hướng Đông Nam, phía trước đình là cánh đồng lúa xanh lượn sóng. Đình cùng khuôn viên với ngôi đền Vua Bà, di tích xếp hạng thành phố năm 2012, tạo thành nơi sinh hoạt văn hóa tâm linh, tín ngưỡng và một trung tâm hoạt động văn hóa truyền thống của nhân dân trong toàn xã An Hồng. Đình có kiến trúc mặt bằng chữ đinh, gồm 5 gian tiền tế và 2 gian hậu cung trong đó có 1 gian cung cấm. Đình xây theo thức đầu hồi bít đốc, trụ đấu, tay ngai, mái chảy lợp ngói mũi truyền thống. Từ sân đình được lát bằng gạch đỏ đều, phẳng, bước lên đình qua 5 bậc cấp. Từ hiên đình nhìn lên phần chắn phong của gian trung tâm là bức đại tự được đắp bằng vữa, trang trí khá đẹp, trông như bức đại tự gỗ. Bên trong đại tự trang trí đắp hoa văn nền gấm và đắp nổi bốn chữ Hán tên ngôi đình: An Hồng Phúc đình (安鸿福亭).Đình có ba bộ cửa, cửa làm theo thức cổ, cửa thùng khung khách. Tường bao che phía trước hai gian hồi tiền tế trổ cửa sổ để tạo ánh sáng trong đình. Hệ thống khung chịu lực làm bằng vật liệu mới, bê tông, cốt sắt. Tòa tiền tế gồm 4 bộ vì, vì bốn hàng chân cột. Cấu trúc các bộ vì tương tự nhau, vì nóc kiểu thuận chồng, tạo giá chiêng, vì nách thuận chồng, trụ trốn 4 con. Trên cấu kiện kiến trúc, như: thuận, xà nách được đắp nổi hoa văn lá guột. Đấu kê thuận hình vuông thót đáy, trên đấu đắp hoa văn hoa sen cách điệu. Trên bảy hiên cũng được đắp trang trí hoa văn lá guột mềm mại.

Tòa hậu cung, bộ khung chịu lực gồm hai bộ vì, kết cấu vì tương tự như bộ vì tòa tiền tế, vì bốn hàng chân cột. Cửa hậu cung bằng gỗ, tạo tác theo kiểu cửa cổ, cửa thùng khung khách. Cửa chính ở giữa rộng lớn, ngưỡng cao, bốn cánh làm theo kiểu thượng song, hạ bản, trên ván cửa chạm đề tài tứ quý, tùng, trúc, cúc, mai, cửa chỉ mở vào những ngày sự lệ lớn của làng. Cửa nách nhỏ có hai cánh nằm hai bên cửa chính, ngưỡng cao ngang đầu gối, vì vậy phải qua bậc gỗ mới vào được trong cung. Cách cấu trúc cửa cung này tạo cho mọi người phải cẩn trọng, cung kính cúi đầu khi vào hậu cung nơi thâm nghiêm nhất của ngôi đình. Toàn bộ hệ thống các bộ vì được liên kết với nhau bằng hệ thống xà đai được tạo tác hình vỏ măng. Bằng kỹ thuật ghép đổ liền giữa các bộ vì với xà đai thành một khối, nên công trình có độ bền và vững chắc cao.

Bài trí thờ tự
Nhìn chung, tuy ngôi đình làm bằng bê tông, cốt sắt, nhưng được các thợ ngõa làm có kỹ thuật cao và trang trí đắp vẽ trên kiến trúc đẹp, mềm mại, nên trông tổng thể vẫn giống như những ngôi đình làng truyền thống thời cổ xưa.
Trải qua thăng trầm của lịch sử, binh lửa chiến tranh, nhưng đình An Hồng Phúc vẫn bảo tồn được một số cổ vật, tư liệu lịch sử có giá trị như: 5 sắc phong, trong đó 3 đạo sắc phong của vua Thành Thái năm đầu (1889); 2 đạo sắc của vua Duy Tân năm thứ 3 (1909), phong cho các vị Thành hoàng làng; Hòm sắc gỗ sơn son vẽ rồng mây có niên đại cuối thế kỷ XIX; Bộ đỉnh hương bằng đồng có niên đại cuối thế kỷ XIX; Bát hương gốm có niên đại cuối thế kỷ XIX; Bia đá “Nhị xã hậu thần ký” (弍社後神記)(ghi chép về vị hậu thần của hai xã Song Mai và Mai Thự), dựng niên hiệu Gia Long thứ 3 (1804). Ngoài ra, tại đình còn bảo tồn được một số bia của văn từ của làng thời xưa, tuy nhiên do trước đây việc bảo quản không tốt, nên hiện nay bia bị mòn mất nhiều chữ
Trước đây hằng năm tại đình, nhân dân thường tổ chức tiết lệ vào các ngày âm lịch: 15 tháng 2; 17 tháng 3; 15 tháng 8; 15 tháng 9; 19 tháng 11. Ngoài ra, xuân, thu nhị kỳ hai lần tế lễ; lễ Thượng điền, Hạ điền; mùa hè có lễ Kỳ an. Lễ vật dâng thần có bánh giầy, bánh chưng, lợn, xôi, gà, trầu, rượu… Trong dịp lễ giỗ Đức Thánh Trần vào ngày 15 tháng 8, dân làng tổ chức rước kiệu, rước bài vị thánh từ các miếu về đình làm lễ hội. Trong lễ hội, đoàn tế của địa phương tổ chức tế thánh, Mạnh bái phải là vị có chức sắc, gia đình song toàn, đề huề, không vướng vào tang trở. Quan tế viên là các vị có ngôi thứ trong làng, có uy tín, không có tang trở. Quan tế viên phải trai giới trước khi tham gia hành tế. Ngoài tế lễ, dâng hương, lễ hội còn có các trò chơi dân gian, như: đấu vật, cờ tướng, cờ người, vật cầu, đu tiên, bắt vịt, cầu thùm, hát ca trù…
Ngày nay, nhân dân tổ chức lễ chủ yếu vào dịp 15 tháng 8, ngày giỗ Đức Thánh Trần. Địa phương đang từng bước nghiên cứu, kế thừa và phát huy những sinh hoạt văn hóa truyền thống của tiền nhân để lại. Đặc biệt, thời gian từ năm 2018 đến nay, vào dịp đầu năm mới tại đình An Hồng Phúc, nhân dân địa phương tổ chức “Lễ hội khai bút đầu xuân”. Lễ hội có tổ chức lễ rước “Thần Thư, Thánh Bút” từ đình đi quanh xã rồi về đình làm lễ hội khai bút. Đoàn lễ rước có các em học sinh trong xã, nhiều đoàn thể, cấp ngành cùng người dân trong và ngoài địa phương tham gia rất trang nghiêm. Lễ hội khai bút với nhiều hành động hội có ý nghĩa giáo dục cao và để lại ấn tượng đậm nét cho những người đến dự hội. Lễ hội “Khai bút đầu xuân” đang trở thành lễ hội truyền thống đặc sắc, độc đáo trong hoạt động lễ hội truyền thống tại các làng, xã của người dân Hải Phòng.



Đình An Hồng Phúc, tuy mới được khôi phục lại, nhưng đã được xếp hạng là di tích của thành phố Hải Phòng. Cùng với di tích đền Vua Bà, khu di tích đình, đền trở thành trung tâm sinh hoạt văn hóa truyền thống của địa phương. Với những giá trị lịch sử, văn hóa mang đậm đặc mầu sắc tâm linh, tín ngưỡng dân gian, cùng với lễ hội khai bút đầu xuân độc đáo, khu di tích đang trở thành điểm đến hấp dẫn của du khách trong và ngoài địa phương của phường An Hồng.