image banner
Đền Vua Bà (di tích lịch sử - văn hóa cấp thành phố)

Đền Vua Bà thuộc thôn Thuần Tỵ, xã An Hồng (cũ), nay thuộc tổ dân phố Thuần tỵ, phường Hồng An, thành phố Hải Phòng. Trước đây, di tích còn có tên là miếu Vua Bà. Song đền Vua Bà vẫn là tên thường dùng và phổ biến của cộng đồng dân cư trong, ngoài địa phương. Đền Vua Bà thờ vị nữ thần, dân gian tôn là bậc thánh mẫu. 

Đền Vua Bà

Ngày 27/01/2011 UBND thành phố Hải Phòng ký Quyết định số 151 /QĐ- UBND V/v xếp hạng di tích lịch sử cấp thành phố đối với Đền Vua Bà.

Bảng xếp hạng di tích lịch sử - văn hoá cấp thành phố

Thuần Tỵ là tên của hai liệt sĩ: Chu Đức Thuần và Ngô Khắc Tỵ, người xã An Hồng đã anh dũng hy sinh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 1954). Thôn Thuần Tỵ được hình thành mới sau này của làng cổ Song Mai, còn có tên Nôm là làng Moi. Với địa danh có tên Nôm làng Moi chứng minh làng hình thành trước thời Ngô Quyền giành độc lập dân tộc. Bởi theo các nhà nghiên cứu địa danh học, tên Nôm chỉ địa danh của người Việt có trước thời tự chủ, tức là trước thời Ngô Vương Quyền chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, năm 938.

Đền Vua Bà thờ vị thần có tên Trần Hồng Nương, có công âm phù giúp Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân. Thời gian gần đây chúng tôi tiếp cận với tài liệu “Thần phả đình Song Mai” viết bằng chữ Hán Nôm. Tài liệu được sao chép lại theo thần tích Thành hoàng làng Song Mai do Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính soạn vào ngày tốt, mùa xuân, niên hiệu Hồng Phúc nguyên niên (1572). Tiếp thời gian sau được Quản giám bách thần, Tri điện hùng lĩnh Thiếu khanh, Nguyễn Hiền, theo chính bản sao lại vào ngày tốt mùa đông, niên hiệu Vĩnh Hựu thứ 3 (1737 ). Đến triều Nguyễn tiếp tục được sao chép lại vào ngày tốt, mùa Đông, niên hiệu Duy Tân thứ 4 (1910). Qua nghiên cứu bản thần tích Thành hoàng làng Song Mai, tuy có một số niên hiệu vua của một số triều đại chưa chuẩn xác (có thể do trong quá trình sao lục, người sao không tra cứu chuẩn về niên đại các đời vua), nhưng tổng thể bản thần tích này là căn cứ chính để viết về các vị Thành hoàng làng Song Mai được thờ tại đình An Hồng Phúc và đền Vua Bà. Theo đó, ba vị Thành hoàng họ Lý ở làng Moi (Song Mai) là những tướng quân đã giúp Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân. Cũng theo thần tích của đình Song Mai, đền Vua Bà khởi dựng từ thời Đinh, thế kỷ X, tức là sau khi Đinh Tiên Hoàng dẹp xong loạn 12 sứ quân, lên ngôi vua, đã lệnh cho địa phương xây dựng miếu để phụng thờ vị thần Trần Hồng Nương đã âm phù cho vua thắng giặc.

Thần tích làng Song Mai chép thân thế, sự nghiệp vị thần chủ đền Vua Bà như sau:

Thế kỷ X, có loạn 12 sứ quân, phân chia thế lực, chia cắt quốc gia. Chiến tranh giữa các sứ quân liên miên, dân tình điêu linh, khốn khổ. Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân. Một lần Ngài cùng ba vị tướng quân họ Lý, người trang Song Mai đem quân chinh chiến đi qua vùng đất Song Mai. Khi đến địa phương cũng là lúc trời tối, nhà vua cho quân lính trú quân tại đây. Đêm hôm đó, Ngài ngủ mộng thấy một nữ sĩ đến bèn hỏi nữ sĩ ở đâu, sao chỉ có một mình đến đây. Nữ sĩ tâu rằng: “Tên là Hồng Nương, họ Trần, do đi du hành sang phương Bắc mà mất. Sau khi mất hiển linh, nay được thiên đình sắc làm thần trấn giữ vùng đất nơi đây. Được biết Ngài thân làm tướng đi đánh giặc, thiếp sẽ nguyện theo đại quân âm phù giúp đỡ, sau này thắng trận mong Hoàng đế cho phụng thờ để được hưởng lộc lâu dài cùng đất nước”. Tấu xong bỗng trên không trung sấm, sét nổ vang trời, Đinh Bộ Lĩnh bừng tỉnh mộng, biết là có thần giúp sức. Sau đó Ngài làm lễ tạ thần, rồi lệnh cho ba tướng quân họ Lý tiến quân dẹp giặc. Ba vị tướng quân họ Lý chia làm hai đường tiến quân. Ngài Toàn Công chỉ huy quân đường thủy, Hoằng Công, Thiệu Công chỉ huy quân đường bộ, hai mũi cùng tiến quân đánh địch. Trận chiến đang diễn ra ác liệt, tự nhiên trời đất nổi phong ba, bão tố, sóng nước cuộn dâng, quân giặc vỡ trận, thất bại, chạy tán loạn. Đất nước thanh bình, ba vị Lý tướng quân cùng Đinh Bộ Lĩnh về nơi đồn trú ở bản quán Song Mai, đại khai yến tiệc, khao thưởng tướng sĩ, gia phong chức tước theo công trạng và làm lễ bái tạ nữ thần. Đinh Bộ Lĩnh lệnh cho người dân địa phương lập miếu phụng thờ nữ thần, ban phong mỹ tự thần hiệu cho nữ thần. Từ đó dân làng Song Mai hương khói phụng thờ Ngài. Do loạn lạc binh lửa chiến tranh, các sắc phong của triều đại trước đây phong cho Ngài bị mất mát, thất lạc. Hiện nay địa phương còn lưu giữ được sắc phong niên hiệu Duy Tân thứ 3 (1909) phong cho Ngài, sắc ghi: “Sắc cho xã Song Mai, huyện An Dương, tỉnh Kiến An, theo trước phụng thờ Ngài: Dực bảo, Trung hưng, linh phù Chiêu huấn, đức trạch, Trinh thiện, Hoàng hậu chi thần. Trải qua các tiết lễ đã được ban sắc phong để phụng thờ. Nay Trẫm đăng quang lên ngôi, lấy niên hiệu Duy Tân, là ngày đại lễ, ta ban chiếu báu, làm lễ tri ơn công lao của thần, nâng phẩm trật cho thần. Đặc biệt chuẩn cho theo trước phụng thờ thần, cho ghi vào sách lễ quốc gia để thờ tự lâu dài... ”. Niên hiệu Khải Định thứ 9 (1924), sắc ban phong cho Ngài: “Sắc cho xã Song Mai huyện An Dương, tỉnh Kiến An, theo trước phụng thờ, thần trước đây đã được tặng Dực bảo, Trung hưng, linh phù Chiêu huấn, Đức trạch, Trinh thiện, Nguyên phi, Hoàng hậu tôn thần, thần đã có công giúp nước, bảo vệ che chở cho dân điều đó sáng rõ từ xa xưa. Trải qua các tiết lễ đã được ban cấp sắc phong để phụng thờ thần. Nay nhân dịp Trẫm ở ngôi báu và tròn bốn mươi tuổi, ngày đại lễ quốc gia. Ta ban chiếu báu để tri ân công lao của thần, gia tặng nâng phẩm trật cho thần là Trai tĩnh Trung đẳng tôn thần. Đặc biệt chuẩn cho thờ tự, cho ghi chép vào sách lễ quốc gia để thờ tự lâu dài... 

Bài trí thờ tự

Từ trục đường thôn Thuần Tỵ có hai lối vào đền Vua Bà, một lối theo đường bờ mương tưới tiêu của xã, lối vào thứ hai đi vào đường trước đình An Hồng Phúc. Trước khi vào đền đều qua nghinh môn xây theo kiểu cột đồng trụ, gồm hai trụ biểu tạo ra chính môn ở giữa. Hai trụ biểu thể hiện cho âm, dương, trời và đất, tả môn, hữu môn có mái che. Nghinh môn được tạo tác, trang trí đắp hoa văn, họa tiết mềm mại, sắc nét theo các đề tài truyền thống như: tứ linh, tứ quý, hoa lá thiêng. Nghinh môn tạo cho du khách những ấn tượng ban đầu khi đến một nơi thờ tự linh thiêng.”.

Trước đền Vua Bà là sân gạch có diện tích vừa phải. Phía ngoài sân là bức bình phong (tắc môn) bằng đá được dựng trên trục đường thần đạo để che chắn những uế tạp của phàm trần thổi vào nơi thánh ngự. Bức bình phong tạo dáng hình cuốn thư, trên bình phong chạm nổi rồng mây, hoa, lá thiêng. Phía sau tắc môn là đường vào di tích. Hồ nước nhỏ nằm trên đường thần đạo, tạo thế phong thủy tích phúc và làm không khí mát mẻ sinh động cho cảnh quan đền Vua Bà.

Đền Vua Bà là công trình kiến trúc vừa phải mới được tôn tạo gần đây, ngôi đền nằm dưới tán của những cây dung thụ đang ở thế vươn rộng tỏa ra xung quanh và vươn lên trời xanh. Đền Vua Bà có mặt bằng kiến trúc chữ Đinh, gồm ba gian tiền bái và một gian hậu cung cũng là cung cấm. Ngôi đền nhìn về hướng Đông Nam, trước đền là cánh đồng lúa bát ngát, mông mênh, xa xa là dòng sông Cấm lịch sử với dòng nước bạc chảy ra nơi biển Đông. Nhịp sóng vỗ của sông Cấm ngày đêm như kể lại cho mọi người nghe những chiến công hiển hách của tiền nhân. Trong số đó có Vua Bà bậc thánh mẫu, vị Phúc thần được nhân dân phụng thờ cùng với sự trường tồn của đất nước.

Đền Vua Bà trước đây làm bằng gỗ tốt, song do chiến tranh, thời tiết khắc nghiệt và sự thăng trầm của lịch sử nên đền bị đổ nát, riêng phần hậu cung đền dựng đầu thế kỷ XX, xây kiểu vòm cuốn được giữ lại. Năm 2009, nhân dân địa phương phục dựng lại ba gian tiền đường nhỏ bằng bê tông cốt sắt, mái chảy, lợp ngói mũi. Do đền quá nhỏ hẹp nên năm 2021, nhân được thành phố Hải Phòng công trợ khoản kinh phí để trùng tu tôn tạo đền, địa phương đã tôn tạo lại đền Vua Bà theo hướng mở rộng diện tích và nâng cao kích thước của đền. Công trình đền hiện nay gồm ba gian tiền bái và một gian hậu cung và cũng là cung cấm. Đền làm bằng vật liệu mới, bê tông cốt sắt, mái chảy, lợp ngói mũi truyền thống. Hệ thống cửa chính của tòa tiền bái làm bằng gỗ, đóng kiểu cổ, cửa thùng khung khách, mỗi gian bốn cánh, cánh cấu tạo thượng song hạ bản. Trên bản cửa chạm nổi hoa văn hoa dây hóa hình con dơi chầu chữ thọ cách điệu. Khung chịu lực của tòa tiền bái cấu tạo gồm bốn bộ vì, vì bốn hàng chân cột, trốn cột quân tiền, nhưng có cột hiên. Hệ thống cột hiên hình trụ bằng đá. Trụ có đế, có đấu đầu trụ, bốn mặt trụ chạm nổi hoa văn nền gấm. Bộ vì tòa tiền bái cấu trúc vì nách thuận chồng ba con, vì nóc thuận chồng hai con, các con thuận được kê lên nhau bằng các đấu vuông thắt đáy. Trên đấu đắp nổi hoa văn hoa sen cách điệu. Trên các con thuận được đắp nổi lá lật mềm mại, ken dầy to bản, phủ gần như kín thân thuận. Trên các bảy hiên, bẩy hậu cũng được đắp nổi đề tài lá lật mềm mại. Tòa hậu cung hai gian, trong đó có một gian cung cấm. Bộ vì tòa hậu cung, cấu tạo bốn hàng chân cột, kết cấu tương tự như bộ vì tòa tiền bái. Cửa hậu cung đóng theo kiểu cổ, cửa chính ở giữa to rộng bốn cánh, cánh cấu tạo thượng song hạ bản, ngưỡng cao. Cửa chính chỉ mở khi có những ngày tiết lệ lớn của đền. Hai bên cửa chính là cửa nách, cửa nách nhỏ, ngưỡng cao ngang đầu gối, cửa chỉ đủ một người đi qua, cửa một cánh, cấu tạo cánh như cửa chính. Vào trong cung cấm chủ yếu bằng cửa nách. Cách bố trí cửa như trên tạo cho cung cấm đền thâm nghiêm, giữ được nguồn thiêng nơi thánh ngự.

Trải qua thăng trầm của lịch sử, di tích đền Vua Bà vẫn còn gìn giữ được một số di vật cổ vật có giá trị về lịch sử, mỹ thuật như sau:

- Tượng Vua Bà làm bằng gỗ quý, kích thước tương đương với người thường. Thần tượng ngồi trên bệ ngọc hai cấp, mặc xiêm y chùng nhiều lớp. Tư thế ngồi chân buông thẳng tự nhiên, chân đi hài thêu. Tay trái đặt trên gối trái, tay phải cầm quạt. Vua Bà đội mũ ngọc, phía trán mũ có vành kiện chạm thủng hoa văn hoa, lá thiêng. Vua Bà có khuôn mặt trái xoan, lông mày lá liễu, mắt nhìn thẳng, tai đeo khuyên ngọc chảy dài trên bờ vai. Toàn bộ dung nhan của Vua Bà thể hiện nét đoan trang, nhân hậu, thánh thiện. Thần tượng được sơn son, thếp bạc, phủ hoàn kim sáng rạng.

- Đại tự bằng gỗ quý, diềm đại tự tạo dáng vỏ măng, trên diềm chạm nổi hoa văn hoa dây đề tài tứ quý. Nền đại tự chạm hoa gấm, điểm xuyết có các mảng vân tản. Trên đại tự chạm nổi bốn chữ Hán lớn: “Quốc mẫu linh từ” (國母靈祠), nghĩa là ngôi đền thờ vị thánh bà, được tôn vinh là mẹ của người dân trong nước.

Xưa kia, trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, lệ làng hằng năm vào dịp 17 tháng 3, ngày 28 tháng Chạp, dân làng tổ chức tế lễ tại đền. Đoàn tế nam quan của làng gồm các quan tế viên phải là trai tân hành tế, Mạnh bái là Tiên chỉ. Dân làng sắm lễ chung từ lợi tức của ruộng công thờ cúng Thành hoàng. Lễ tổ chức trong một ngày, ngoài tế lễ dâng hương còn có trò chơi thi đấu như: đu tiên, đấu vật, tổ tôm điếm, đánh cờ người, hát đúm, hát chèo cổ, có năm tổ chức rước thánh đi quanh làng rất đông và trang nghiêm.

Hiện nay, dân làng tổ chức tế lễ dâng hương thánh mẫu vào dịp 17 tháng 3. Buổi tối có giao lưu văn nghệ trong nội bộ địa phương. Do cùng trong khuôn viên với đình An Hồng Phúc, nên các dịp hội lễ lớn tại đình, đền, hai di tích đều mở cửa để mọi người dâng hương kính lễ Vua Bà và các vị Thành hoàng. Khu vực sân đền cũng là nơi để nhân dân tham gia hội lễ chung.

Đền Vua Bà là công trình tuy mới được xây dựng, nhưng vẫn mang được phong cách kiến trúc truyền thống. Ngôi đền là chứng tích khẳng định sự hình thành phát triển của địa phương đã trải qua hàng ngàn năm lịch sử. Công trình như một tượng đài tưởng niệm, tri ân tới vị thánh mẫu, Vua Bà đã có công với dân, với nước. Đền Vua Bà địa điểm gợi mở cho du khách tham quan chiêm bái những giá trị văn hóa tâm linh, tín ngưỡng dân gian của người Việt, luôn ca ngợi, tôn vinh những phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam.

btv hongan
QR Code
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisementCó thể là hình ảnh về văn bản
Tin mới
Thư viện ảnh
Thống kê truy cập
  • Đang online: 0
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 0
  • Tất cả: 0